TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Tiêu chuẩn quốc tế về phân loại nghề nghiệp và ý nghĩa đối với việc xây dựng tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp của công chức, viên chức ở nước ta

Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong từng lĩnh vực ngành nghề hoạt động của viên chức. Do hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và phân hạng chức danh nghề nghiệp của viên chức ở nước ta hiện nay khá phức tạp, chúng ta có thể tham khảo những nguyên tắc cơ bản của phân loại nghề nghiệp quốc tế để quy định tiêu chuẩn, phân loại chức danh nghề nghiệp và ban hành mã số chức danh nghề nghiệp đối với viên chức

1. Tiêu chuẩn quốc tế về phân loại nghề nghiệp

1.1. Khái quát về tiêu chuẩn quốc tế về phân loại nghề nghiệp

Phân loại tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc tế hay còn gọi là phân loại chuẩn quốc tế về nghề nghiệp (International Standard Classification of Occupations - ISCO) là một công cụ để tổ chức các công việc ở cơ sở, ở một ngành nghề hay trong một quốc gia. ISCO do Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization – ILO) điều hành. Mục đích của nó là để cung cấp:

- Cơ sở cho việc so sánh quốc tế, báo cáo và trao đổi dữ liệu thống kê, hành chính về nghề nghiệp;

- Mô hình cho sự phát triển của quốc gia và các ngành nghề;

- Hệ thống có thể được sử dụng trong các nước không thực hiện chế độ phân loại quốc gia.

 

ISCO bao gồm 2 phần chính:

- Hệ thống phân loại, trong đó cung cấp các chỉ dẫn về phân loại công việc thành các nhóm chi tiết và các nhóm chi tiết  đó lại tiếp tục được tổng hợp thành các nhóm rộng hơn. Nó bao gồm chức danh nghề nghiệp và mã số.

- Bản mô tả, bao gồm mô tả các nhiệm vụ và nghĩa vụ cũng như các khía cạnh khác của công việc thuộc mỗi nhóm, bao gồm cả kỹ năng và chuyên môn, nghề nghiệp… Những mô tả này có thể tạo thành một từ điển của các ngành nghề.

Phân loại nghề nghiệp có thể được so sánh với một hệ thống bản đồ của một quốc gia; cấp cao nhất tương ứng với bản đồ tỷ lệ nhỏ thể hiện các đường cao tốc và đường cao tốc chính, các cấp độ tiếp theo tương ứng với các bản đồ tỷ lệ lớn hơn; mỗi khu vực chính cũng thể hiện đường liên tỉnh và đường địa phương. Như vậy, ở cấp độ chi tiết nhất là bản đồ kỹ thuật chi tiết được sử dụng để lập quy hoạch xây dựng vỉa hè, đèn giao thông, mở rộng đường... Bản đồ chi tiết kỹ thuật có thể được so sánh với mô tả công việc được sử dụng bởi các cơ quan, đơn vị cho hệ thống quản lý nhân sự và tiền lương .

Tương ứng với cách lý giải trên, cấu trúc của hệ thống phân loại danh mục ngành nghề được phân chia theo nhóm lớn, nhóm lớn phụ, nhóm nhỏ và nhóm đơn vị nghề nghiệp.

Phiên bản hoàn chỉnh đầu tiên của ISCO của Cục Thống kê Lao động Quốc tế tại Thụy Sĩ đã được thông qua vào năm 1957 tại Hội nghị quốc tế lần thứ IX, bao gồm một cấu trúc phân loại của 10 nhóm lớn, 73 nhóm lớn phụ, 201 nhóm nhỏ và 1.345 nhóm đơn vị nghề nghiệp. Tất cả các nhóm ở từng mức độ phân loại được gắn một mã duy nhất, thêm tiêu đề và mô tả, xuất bản vào năm 1958. 

Trên cơ sở ý kiến tham khảo từ khoảng 80 quốc gia và 10 tổ chức quốc tế liên quan đến việc phân loại, ISCO được sửa đổi và hoàn thiện vào năm 1988, 2008. Kinh nghiệm cho thấy, rất khó khăn để tạo ra một tập hợp toàn diện các hạng mục chi tiết áp dụng được với tất cả các nước. ISCO năm 2008 bao gồm 10 nhóm lớn (giữ nguyên), 43 nhóm lớn phụ, 131 nhóm nhỏ và 425 nhóm đơn vị nghề nghiệp. Ưu thế của nó là cung cấp mô tả chi tiết hơn cho tất cả các loại được xác định tại mỗi cấp độ trong cấu trúc phân loại và có thể được mở rộng bằng cách xác định ngành nghề chi tiết khi cần thiết tùy theo mục đích quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Do vậy, nhiều quốc gia đã cập nhật phân loại ngành nghề cho quốc gia họ, hoặc dựa trên ISCO 2008 để cải thiện sự liên kết với các tiêu chuẩn quốc tế .

1.2. Những nguyên tắc cơ bản của phân loại nghề nghiệp

Bất kỳ phân loại nghề nghiệp nào cũng đều dựa theo những nguyên tắc cơ bản như:

a) Phân loại theo đơn vị nghề nghiệp

Phân loại nghề nghiệp nói chung chính là phân loại các công việc. Các công việc có thể là:

- Công việc đã, đang và sẽ làm;

- Công việc được trả lương;

- Công việc tự làm;

- Công việc không có vị trí;

- Công việc chia sẻ.

Những việc làm có yêu cầu về thao tác và nhiệm vụ giống nhau được tổng hợp thành một nghề. Các nghề được nhóm lại để định nghĩa (ở phạm vi hẹp hoặc rộng) thành các nhóm nghề nghiệp dựa trên tính tương đồng của loại hình công việc phải làm, chẳng hạn như thao tác giống nhau hoặc nhiệm vụ như nhau. Các đơn vị nghề nghiệp mô tả trong từ điển là nghề nghiệp hoặc nhóm nghề nghiệp (Ở cấp độ tập đoàn, tiền công và kế hoạch lương có thể mô tả các việc làm cụ thể).

Khi các công việc là những đối tượng chính đã được phân loại theo phân loại nghề nghiệp, một người có thể được phân loại theo ngành nghề hoặc nhóm nghề nghiệp chỉ thông qua mối quan hệ của người đó với nghề nghiệp. Điều này có thể là một công việc họ đã làm, đang làm hoặc một công việc họ đang tìm kiếm. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể sau đó, một người có thể được phân loại theo ngành nghề khác nhau nếu người đó đã có hoặc dự kiến có nhiều hơn một công việc.

b) Phân loại theo biến số

Biến phân loại để phân loại nghề nghiệp thường là loại công việc phải làm hoặc các thao tác và nhiệm vụ cần thực hiện.

c) Phân loại theo tiêu chuẩn tương đồng

Tiêu chí tương đồng là nền tảng để xác định phân loại nghề nghiệp. Các tiêu chí này quyết định khung khái niệm đối với thành phần và vị trí của các danh mục việc làm. Chúng hướng dẫn cách phân loại các nghề mới hoặc nghề nghiệp chưa được phân loại, cách thức thiết lập nên tính tương đồng từ các thuộc tính cơ bản, và cách sắp xếp các nghề trong hệ thống phân loại. Các tiêu chí này phải liên quan đến các thuộc tính đã biết của một nghề nghiệp và phải được định nghĩa một cách rõ ràng và nhất quán, phải đánh giá được theo phương pháp luận đã được chấp nhận. Cách tốt nhất là có thể xác định các tiêu chí này thông qua quá trình sử dụng hệ thống phân loại. Do đó, để xác định vị trí việc làm một cách hữu hiệu, các tiêu chí tốt nhất là lập quy hoạch nguồn nhân lực, lập kế hoạch đào tạo và kĩ năng; nhưng nếu phân loại việc làm để phục vụ công tác phân tích các giai tầng xã hội hoặc sự biến đổi của xã hội thì yếu tố phù hợp hơn cả lại là uy tín nghề nghiệp. 

Tiêu chí tương đồng phải đáp ứng các nhu cầu của người sử dụng bất kỳ. Tuy nhiên, đối với một số người sử dụng, tiêu chí quan trọng nhất của họ có thể là địa vị xã hội hoặc phương tiện làm việc… Do vậy, ý nghĩa của việc sử dụng hệ thống phân loại nghề nghiệp nói chung và phân loại vị trí việc làm nói riêng cần phải được đánh giá cẩn thận.

1.3. Cách mã hóa và minh họa phụ lục phân loại nghề nghiệp

Mã hóa

ISCO năm 2008 sử dụng dãy bốn chữ số để mã hóa cho mỗi cấp độ phân loại nghề nghiệp tương ứng với nhóm lớn, nhóm lớn phụ, nhóm nhỏ và nhóm đơn vị nghề nghiệp.

 

Minh họa phụ lục phân loại nghề nghiệp

1- Quản lý

    11- Lãnh đạo điều hành, các lãnh đạo và nhà lập pháp cấp cao

    12- Quản lý hành chính và thương mại

    13- Quản lý sản xuất và dịch vụ chuyên ngành

    14- Quản lý bệnh viện, ngành thương nghiệp bán lẻ và các dịch vụ khác

2- Chuyên gia

    21- Chuyên gia khoa học và kỹ thuật

    22- Chuyên gia y tế

    23- Chuyên gia giảng dạy

          231- Đại học và giáo viên giáo dục cao hơn

          232- Giáo viên dạy nghề

          233- Giáo viên trung học

          234- Giáo viên tiểu học và mầm non

              2341- Giáo viên tiểu học

              2342- Giáo viên mầm non

          235- Giáo viên giảng dạy khác

     24- Chuyên gia kinh doanh và quản trị

     25- Chuyên gia công nghệ thông tin và truyền thông

     26- Chuyên gia văn hóa, xã hội và pháp lý

3- Kỹ thuật viên và tập sự

4- Nhân viên hành chính hỗ trợ

5- Nhân viên dịch vụ và bán hàng

6- Nhân viên có kỹ năng về nông, lâm, thủy sản

7- Nhân viên thủ công mỹ nghệ và dịch vụ thương mại liên quan

8- Thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị

9- Lao động phổ thông

0-    Nghề nghiệp thuộc lực lượng vũ trang

 

2. Ý nghĩa của phân loại tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc tế đối với việc xây dựng tiêu chuẩn ngạch và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của công chức, viên chức ở nước ta

2.1. Đối với việc xây dựng tiêu chuẩn ngạch và mã số công chức

Để có cơ sở thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và phân cấp quản lý công chức, Điều 34 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định phân loại công chức thực hiện như sau:

a) Phân loại công chức theo ngạch, gồm: công chức loại A (là những người được bổ nhiệm vào ngạch cao cấp); loại B (là những người được bổ nhiệm vào ngạch chính); loại C (là những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương); loại D (là những người được bổ nhiệm vào các ngạch còn lại- các ngạch thấp hơn ngạch chuyên viên).

b) Phân loại công chức theo vị trí công tác gồm: công chức lãnh đạo, quản lý và công chức thừa hành.

Việc sử dụng các ngạch công chức được thực hiện như sau: công chức lãnh đạo, quản lý và công chức tham mưu, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện được bổ nhiệm từ ngạch cao cấp trở xuống tương ứng với từng vị trí công tác; công chức thực thi, thừa hành được bổ nhiệm vào các ngạch từ ngạch chính trở xuống tương ứng với từng vị trí công tác.

Cùng với quy định của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, chúng ta đã xác lập khá rõ ràng cơ sở pháp lý về tiêu chuẩn nghề nghiệp của các ngạch công chức.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và để xây dựng, phát triển đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, chúng ta cũng cần tham khảo cách phân loại tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc tế của ILO để hướng dẫn, quy định chi tiết tiêu chuẩn nghề nghiệp của các ngạch công chức chuyên ngành. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn về mã số các ngạch công chức. Vì vậy, kinh nghiệm quốc tế về mã hóa và minh họa phụ lục phân loại nghề nghiệp (ISCO năm 2008 sử dụng dãy bốn chữ số để mã hóa cho mỗi cấp độ phân loại nghề nghiệp tương ứng với nhóm lớn, nhóm lớn phụ, nhóm nhỏ và nhóm đơn vị nghề nghiệp) có ý nghĩa tham khảo rất quan trọng đối với các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xây dựng, ban hành mã số và số hiệu đối với công chức ở nước ta, làm cho các quy định của pháp luật cán bộ, công chức của nước ta gần hơn với quy định tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc tế.

2.2. Đối với việc quy định tiêu chuẩn, phân loại chức danh nghề nghiệp và ban hành mã số chức danh nghề nghiệp đối với viên chức

Nhằm phục vụ cho việc đổi mới cơ chế quản lý viên chức, Luật Viên chức và Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức đã đưa ra quy định về việc sử dụng “chức danh nghề nghiệp” của viên chức thay thế cho việc sử dụng “ngạch” của công chức.

Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong từng lĩnh vực ngành nghề hoạt động của viên chức. Do hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và phân hạng chức danh nghề nghiệp của viên chức ở nước ta hiện nay khá phức tạp cho nên Luật Viên chức đã ủy quyền cho Chính phủ ban hành các văn bản quy định cụ thể hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và phân hạng chức danh nghề nghiệp của viên chức. Thực hiện nhiệm vụ này, chúng ta có thể tham khảo những nguyên tắc cơ bản của phân loại nghề nghiệp quốc tế như đã trình bày ở trên để quy định tiêu chuẩn, phân loại chức danh nghề nghiệp và ban hành mã số chức danh nghề nghiệp đối với viên chức. Như đã nêu trên, tiêu chí tương đồng là nền tảng để xác định phân loại nghề nghiệp, quyết định khung khái niệm đối với thành phần và vị trí của các danh mục việc làm, hướng dẫn cách phân loại các nghề mới hoặc nghề nghiệp chưa được phân loại, cách thức thiết lập nên tính tương đồng từ các thuộc tính cơ bản và cách sắp xếp các nghề trong hệ thống phân loại… Do vậy, các cơ quan nhà nước được giao quản lý chuyên ngành đối với chức danh nghề nghiệp của viên chức có thể tham khảo để xác định thuộc tính của từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp đối với viên chức để đưa ra hệ thống phân loại chức danh nghề nghiệp, trên cơ sở đó xác định vị trí việc làm, lập quy hoạch nguồn nhân lực, kế hoạch đào tạo kỹ năng nghề nghiệp đối với viên chức. 

Tương tự, chúng ta cũng có thể tham khảo kinh nghiệm xây dựng hệ thống phân loại tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc tế để phân loại thành các nhóm tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với viên chức chi tiết nhất và các nhóm chi tiết nhất đó lại tiếp tục được tổng hợp thành các nhóm rộng hơn để ban hành bộ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và mã số các chức danh nghề nghiệp đối với viên chức. Trong quá trình này, cũng cần xây dựng bản mô tả công việc cho từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp và từng vị trí việc làm của viên chức để hướng tới xây dựng, ban hành cẩm nang (hoặc từ điển của các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của viên chức ở nước ta). Nhiều quốc gia đã cập nhật phân loại ngành nghề của công chức và viên chức của quốc gia mình dựa trên ISCO 2008, hoặc xích gần hơn với các tiêu chuẩn quốc tế về phân loại tiêu chuẩn nghề nghiệp ISCO 2008. Do vậy, chúng ta cũng cần tham khảo thêm kinh nghiệm của các quốc gia này./.

ThS. Trần Thị Thơi  - Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết Hội nghị của các chuyên gia Thống kê Lao động quốc tế về cập nhật phân loại tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc tế  (Resolution Concerning Updating the International Standard Classification of Occupations), ngày 06/12/ 2007.

2. Tổng hợp và lược dịch từ trang web của Tổ chức Lao động Quốc tế tại địa chỉ http://www.ilo.org/public/english/bureau/stat/isco/index.htm




























Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước

Địa chỉ: 37A Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hai Bà Trưng, Hà Nội
ĐT: (04) 39740195 - Fax: (04) 39783952
Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn